TRANH CHẤP QUYỀN NUÔI CON VÀ TÀI SẢN KHI LY HÔN

Tôi cưới vợ năm 2010 và có một cháu trai được gần 4 tuổi. Kể từ khi cưới vợ xong thì chúng tôi ở căn nhà do bố mẹ mua cho nhưng không sang tên, đến năm 2011 thì bố mẹ tôi đã sang tên cho tôi. Hiện nay trong quá trình sống, vợ chồng tôi có rất nhiều mâu thuẫn xung quanh việc dạy cháu bé. Hiện nay tôi đi làm lương 10tr/ tháng, vợ tôi đi làm lương 5tr/ tháng. Vậy tôi xin hỏi nếu chúng tôi ly hôn thì ngôi nhà chúng tôi đang ở có bị coi là tài sản chung không? Tôi có được quyền nuôi cháu bé không? Rất mong các luật sư tư vấn giúp tôi, tôi xin trân trọng cảm ơn!

Ngày đăng: 25-06-2016

905 lượt xem

Trả lời:
Trước hết, tôi xin cảm ơn vì bạn đã gửi câu hỏi về Văn phòng Công ty Luật Thế Hệ Mới. Câu hỏi của bạn là về tranh chấp quyền nuôi con và tài sản khi ly hôn, Luật sư trả lời như sau:
Thứ nhất: Vấn đề chia tài sản khi ly hôn:
Theo quy định tại điều 43 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng
Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.
TRANH CHẤP QUYỀN NUÔI CON VÀ TÀI SẢN KHI LY HÔN
Như vậy, trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng đều có quyền có tài sản riêng cho mình, có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung.
Bạn nói bố mẹ đã sang tên căn nhà này cho bạn nhưng không nói rõ là đó là Hợp đồng tặng cho riêng bạn hay là tặng cho cả hai vợ chồng hoặc nếu là hợp đồng chuyển nhượng chỉ ghi tên một mình bạn thì có 2 trướng hợp xảy ra:
Nếu là hợp đồng tặng cho 1 mình bạn thì đó là tài sản bạn được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân, nếu bạn không nhập vào tài sản chung vợ chồng thì đó là tài sản riêng của bạn; Nếu trường hợp là hợp đồng mua bán (chỉ ghi 1 mình tên bạn) thì bạn cũng phải chứng minh được số bạn mua căn nhà đó hoàn toàn của riêng bạn, vợ bạn không liên quan gì đến việc mua bán này (vì nhà mua trong thời kỳ hôn nhân) và bạn không sát nhập căn nhà này vào làm tài sản chung của hai vợ chồng thì đó là tài sản riêng
Nếu hợp đồng tặng cho ghi tên 2 vợ chồng thì đó là tài sản chung của 2 vợ chồng.
Pháp luật quy định nguyên tắc giải quyết tài sản vợ chồng khi ly hôn tại điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:
Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
 
Như vậy, khi ly hôn có tài sản thì hai vợ chồng được thỏa thuận việc tự phân chia, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án chia theo pháp luật. Căn cứ theo quy định tại điều 59 nêu trên khi chia tài sản chung, ngoài nguyên tắc chia đôi thì Tòa án xét thêm các điều kiện khoản 2, 3, 4 điều 59 để phân chia nhằm bảo vệ quyền lợi của vợ, con chưa thành niên, con thành niên bị mât năng lực hành vi dân sự.
Do đó, bạn nên xem xét kỹ lại giấy tờ pháp lý nhà đất của bạn để có hướng giải quyết tốt nhất.
Thứ 2: Về vấn đề tranh chấp quyền nuôi con:
Điều 81 Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn quy định như sau:
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.
Như vậy, con bạn đã gần 04 tuổi, do đó khi ly hôn vợ chồng có quyền thỏa thuận về việc người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con và người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Nếu hai vợ chồng bạn không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ quyết định giao con cho vợ hoặc chồng căn cứ về quyền lợi mọi mặt của con (về học tập, chăm sóc ý tế, học hành, thể chất, tinh thần, môi trường sống…), con đủ 07 tuổi trở lên sẽ hỏi ý kiến của con.
Việc bạn nói lương bạn 10tr/tháng, còn lương vợ bạn 5tr/tháng có được quyền nuôi con hay không thì điều đó còn phụ thuộc vào các điều kiện khác nữa chứ không chỉ xét riêng về điều kiện kinh tế vì tuy vợ bạn lương thấp hơn bạn nhưng việc chăm sóc, giáo dục và môi trường sống tốt hơn cho bé thì Tòa vẫn có thể giao con cho vợ bạn nuôi và bạn phải cấp dưỡng cho con hàng tháng.
 
Trên đây là các quy định pháp luật, tuy nhiên tôi thấy mâu thuẫn của vợ chồng bạn chưa đến mức trầm trọng, chỉ là mâu thuẫn trong chăm sóc con mà thôi, việc tranh chấp con và tài sản khi ly hôn gây ra cho vợ chồng, con cái và những người trong gia định nhiều tổn thương do đó mong rằng hai vợ chồng bạn cùng nhau giải quyết những mâu thuẫn nhỏ này để xây dựng gia đình bền vững, hạnh phúc.

Lưu ý:

  1. Công ty Luật Thế Hệ Mới là tác giả duy nhất cả những bài viết này, không sao chép hoặc sửa đổi từ bất cứ một website nào khác;
  2. Mọi cá nhân, tổ chức khi phát hành lại bài viết này phải được sự đồng ý của chúng tôi và phải ghi rõ nguồn và link trích dẫn tới Công ty Luật Thế Hệ Mới.

Mọi hành vi vi phạm bản quyền, sở hữu trí tuệ đối với các nội dung trên luatthehemoi.com đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

 

 

Quý khách có thể gọi điện thoại 0909 95 95 73 để được tư vấn và hẹn gặp Luật sư.

CÔNG TY LUẬT

THẾ HỆ MỚI

"Khi bạn gặp khó khăn về pháp luật đã có Luật Thế Hệ Mới"

Bình luận (0)

Gửi bình luận của bạn

Captcha